Những Thay Đổi Từ Sự Kiện Tháp Ba-bên
Phải chăng’tất cả các ngôn ngữtrong’số
hằng ngàn ngôn ngữ ngày nay trên thế
giới được hình thành một cách riêng
rẽ? Nếu không thì phải chăng các ngôn
ngữ đó đã phát triển theo một cách
tuần’tự và có mối liên hệ với
nhau?
by Carl Wieland
Composite graphic by Brendon O’Loughlin and Steve Cardno
Artist’s reconstruction of the Tower of Babel. The ancient historian Herodotus,
who saw it on his way through Babylon, describes it as having eight levels, and
standing a colossal 60 m (about 20 modern stories) high. This view, modelled upon
ancient Ziggurats, is probably very similar to how it actually appeared.
Trong một buổi hội thảo về sự sáng’tạo
ở một Hội Thánh’tại Singapore mà tôi
đứng ra trình bày, người can đảm
nhất trong ba’tín hữu trẻ đến gần
chỗ tôi trong giờ nghỉ giải lao đã hỏi:
“Thưa tiến’sĩ Wieland, chúng’tôi
là những nhà ngôn ngữ học đang được
đào’tạo để chuẩn bị cho công’tác
truyền giáo’tại Myanmar [Miến Điện]. Xin
ông vui lòng cho chúng’tôi biết Kinh Thánh
có nói gì về nguồun gốc của các
ngôn ngữ không?”
Sau khi hết ngạc nhiên vì câu hỏi của
họ, tôi trả lời: “Có chứ, dĩ nhiên
là Kinh Thánh có nói về điều đó.”
Tôi đã giải thích cho họ rằng sau trận
Đại Hồng Thủy xảy ra trên toàn cầu,
những người’sống’sót (tất cả
đều có nguồn gốc’từ gia đình
Nô-ê) đã không tuân theo mạng lệnh
của Đức Chúa Trời và sanh’sản thêm
nhiều và đầy dẫy trên mặt đất.
Tại đồng bằng xứ Si-nê-a (Sumeria/Babylonia),
họ bắt đầu xây dựng một thành phố
có tên là Ba-bên và một cái tháp
mà đỉnh của nó có thể “cao đến’tận
trời.”1 Lúc
đó,có lẽ chỉ sau cơn Đại Hồng
Thủy khoảng 100 năm, tất cả họ vẫn còn
là một phần của cùng một xã hội
và nói cùng một thứ ngôn ngữ.
Việc Đức Chúa Trời làm xáo trộn
ngôn ngữ của cộng đồng người nàygiống
như một hình phạt dành cho’sự nổi
loạn, khiến họ không thể hiểu được
tiếng nói của nhau và phải phân’tán
khắp trên trái đất. Như vậy, việc’tạo
nên những ngôn ngữ khác nhau là một’sự
kiện đột ngột và kỳ lạ.
Sau khi nói điều đó, tôi có thể
thấy được vẻ bối rối và thậm
chí là lo lắng trên gương mặt họ.
Họ nói tiếp: “Xin ông vui lòng chỉ cho
chúng’tôi chỗ nào trong Kinh Thánh nói
về điều đó?” Thế là tôi mở
Kinh Thánh, sách Sáng Thế Ký và đọc
cho họ nghe những phân đoạn có liên quan.
Điều này dường như chỉ càng đào’sâu
thêm những băn khoăn của họ, mặc dù
họ cố che đậy nó bằng những cử chỉ
lễ phép bẩm sinh theo văn hóa của mình.
Bỏ qua câu hỏi hiển nhiên về việc làm
sao những bạn trẻ nàyđã sắp ra đi
vào cánh đồng truyền giáomà kiến
thức về lịch’sử Kinh Thánh nghèo nàn
như thế, tại sao Lời của chính Chúa mà
họ đã thề nguyện phục vụ tại cánh
đồng truyền giáo lại khiến họ kinhngạc
đến vậy?
Rồi một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu’tôi:
là các nhà ngôn ngữ học, những người
này phảinắm rất rõ về cách thức
các ngôn ngữ đã biến đổi theo thời
gian. Không chỉ thế, có lẽ họ cũng đã
nghiên cứuchứng cứ về sự liên quan của
các ngôn ngữ trong lịch’sử dù trong
hiện’tại chúng dường như rất khác
nhau.
Vậy mà tại đây lại có một đoạn
trong’sách Sáng Thế Ký mà thoạt nhìn
có thể được hiểu rằng các ngôn
ngữ mà hiện’tại con người đang’sử
dụng’tại vùng của họ, như tiếng
Trung Hokkien của chính gia đình họ, tiếng
Tamil của những người Ấn độ láng
giềng, ngôn ngữ của dân’tộc thiểu’số
Karen’tại Miến Điện, tất cả đều
xuất hiện trong cùng một thời điểm, bởi
những cách thức kỳ lạ.
Dĩ nhiên’sách Sáng Thế Ký không
dạynhư vậy, hệt như Kinh Thánh không dạy
rằng’tất cảkhoảng 800 ngôn ngữ (cùng
nhiềutiếng địa phươngnữa) của xứ
Papua Tân Ghi-nê đều được phát sinh
ngay’từ Trung Đông. Trước hết, chúng
ta hãy xem xét toàn bộ vấn đềngôn
ngữ và sự thay đổi của nó.
Sự Biến Đổi Của Ngôn Ngữ
Bất kỳ ai nghi ngờ về sựbiến đổi
của ngôn ngữ chỉ cần đọc bài thơ
“Canterbury Tales” của Geoffrey Chaucer được
viết bằng tiếng Anh cách đây 600 năm. Lấy
ví dụ như câu ‘…the yonge sonne hath in the
ram his half cours yronne, and small fowls maken melodye, that slepen all the night
with open yë.’ Ngay cả bản Kinh Thánh King James (năm
1769), dù không phải là tiếng Anh hiện đạinhưng
vẫn khác xa so với bản gốc in năm 1611,2 và có hàng
chục ngàn’sựthay đổi cần thiết để
giúp cho Kinh Thánh trở nên dễ hiểu đối
với đại đa’số quần chúng đang’sử
dụng một loại tiếng Anh không ngừngthay đổi.
Việc phổ biến chữ viết, đặc biệt
là chữ viết ở dạng văn bản in, có
lẽ đã giảmtốc độ của quá trình
đa dạng hóa, là điều có thể trở
nên rất bi kịch đối với những nền
văn hóa không có ngôn ngữ viết.3 Tình trạng này
đặc biệt xảy ra ở những nơi mà một’số
cộng đồng người nào đó bị cắt
liên lạc với các cộng đồng xung quanh
trong một khoảng thời gian. Có hai ngôi làng
Papuan nọphân cách nhaubởi địa hình núi
non hiểm trở. Trước đó hằng chục
thế hệ, những cư dân’sống trong hai ngôi
làng đó đã từng nói cùng một
thứ ngôn ngữ nhưng ngày nay nếu gặp nhau
họ lại không thể nào giao tiếp được
với nhau (Xem Mục Ngôn Ngữ qua các thời kỳ
– 3 Khái Niệm)
Lại cũng có bằng chứng thú vị về
sự liên quan giữa các ngôn ngữ. Nhờ có
khả năng đọc cả tiếng Đức và
tiếng Anh mà tôi nhận thấy rằng mình
có thể hiểu được cả một đoạn
văn bản viết bằng tiếng Hà Lan, mặc dù
tôi không hề hiểu nghĩacủa chúng trong
văn nói. Dường như tiếng Hà Lan là
một ngôn ngữ trung gian giữa tiếng Đức
và tiếng Anh. Chẳng hạn như những’từ
sau:
|
Tiếng Anh
|
Tiếng Hà Lan
|
Tiếng Đức
|
water
(Nước)
|
water
|
Wasser
|
dog (hound)
Chó (Chó săn)
|
hond
|
Hund
|
clock
(Đồng hồ)
|
klok
|
Uhr
|
Rồi trong một lần đến thăm một nghĩa
trang có lịch’sử 500 năm dành cho những
thủy thủ Hà Lan ở Melaka (Malacca) trên bán
đảo Malay, tôi đã tìm thấy những
dòng chữ khắc trên bia mộ mà đối
với’tôi chúng còn dễ hiểu hơn cả
tiếng Hà Lan hiện đại. Rõ ràng, trong
quá khứ, những ngôn ngữ này rất gần
với nhau. Chúng đã “phân rẽ” khỏi
nhau, vì thế mà càng về sau, chúng lại
càng trở nên cách xa nhau.
Những mối liên hệ giữa tiếng Đức,
tiếng Hà Lan và tiếng Anh nghe có vẻ hợp
lý, cũng như có ý kiến cho rằng có
những mối quan hệ giữa tiếng Ý, tiếng
Bồ Đào Nha và tiếng Tây Ban Nha (một
vài loại ngôn ngữ được gọi là
những ngôn ngữ Rô-man) và tiếng Latin cổ.
Nhưng những mối quan hệ không chỉ trong nội
bộ một nhóm mà còn cả giữa hai nhóm
ngôn ngữ cũng thật quá rõ ràng. Chẳng
hạn như trong một ví dụ trên đây,
bạn hãy để ý, từ “đồng hồ”
(clock) trong tiếng Đức (uhr) nghe giống như từ
“giờ” (hour) trong tiếng Anh và từ “giờ”
(hour) trong tiếng Anh lại’tương’tự với’từ
“giờ” trong tiếng Latin (hora).4
Thật ra không chỉ những ngôn ngữ nói
trên nhưng có rất nhiều những ngôn ngữ
thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European), bao
gồm cả tiếng Hy Lạp, tiếng Nga và thậm
chícả tiếng Phạn (Sanskrit) cổ,
cũng có thể đem ra so’sánh để
tìm điểm’tương quan theo cách này.
Nếu bạn phủ nhận mối liên hệ giữa
những ngôn ngữ trong hệ ngôn ngữ Ấn-Âuthì
bạn phải nói rằng bảng dưới đây
với những dãy’từ có phát âm và
ý nghĩa’tương’tự nhau đầy những
trùng hợp ngẫu nhiên thật kỳ lạ.
Điều này nghĩa là rất có thể tất
cả những ngôn ngữ bên dưới, ngoại
trừ tiếng Hungary (cột phía ngoài cùng bên
phải) có cùng một “ngôn ngữ tổ
tiên”. Các nhà ngôn ngữ học ám
chỉ đó chính là ngôn ngữ “Ấn-Âu
Tiền Sử” (proto-Indo-European) và đã cố
gắng để đưa ra một vài suy luận hợp
lý về một’số nguồn gốc ban đầu
của các’từ ngữ thuộc hệ thống’từ
đó.
|
Tiếng Anh
|
Tiếng Đức
|
Tiếng Đan Mạch
|
Tiếng La-tin
|
Tiếng Tây Ban Nha
|
Tiếng Ý
|
Tiếng Pháp
|
Tiếng Hy Lạp (Hiện Đại)
|
Tiếng Nga
|
Tiếng Hungary
|
|
One (Một)
|
Eins
|
En
|
Unus
|
Uno
|
Uno
|
Un
|
Ena
|
Odyin
|
Eggy
|
|
Two (Hai)
|
Zwei
|
To
|
Duo
|
Dos
|
Due
|
Deux
|
Dhyo
|
Dva
|
Kettö
|
|
Three (Ba)
|
Drei
|
Tre
|
Tres
|
Tres
|
Tre
|
Trois
|
Tria
|
Tri
|
Három
|
|
Four (Bốn)
|
Vier
|
Fire
|
Quattuor
|
Cuatro
|
Quattro
|
Quatre
|
Tessera
|
Chyetirye
|
Négy
|
|
Five (Năm)
|
Fünf
|
Fem
|
Quinque
|
Cinco
|
Cinque
|
Cinq
|
Pente
|
Pyat’
|
Öt
|
|
Mother (Mẹ)
|
Mutter
|
Mor
|
Mater
|
Madre
|
Madre
|
Mère
|
Metera
|
Mat’
|
Anya
|
|
Father (Cha)
|
Vater
|
Far
|
Pater
|
Padre
|
Padre
|
Père
|
Pateras
|
Otyetz
|
Apa
|
|
I (Tôi)
|
Ich
|
Jeg
|
Ego
|
Yo
|
Io
|
Je
|
Ego
|
Ya
|
Én
|
|
You (Bạn)
|
Du
|
Du
|
Tu
|
Tu
|
Tu
|
Tu
|
Esy
|
Ti
|
Ón
|
|
House (Nhà)
|
Haus
|
Hus
|
Domus
|
Casa
|
Casa
|
Maison
|
Spiti
|
Dom
|
Ház
|
|
Dog (Chó)
|
Hund
|
Hund
|
Canis
|
Perro
|
Cane
|
Chien
|
Skylos
|
Sobaka
|
Kutya
|
|
Cat (Mèo)
|
Katze
|
Kat
|
Feles*
|
Gato
|
Gatto
|
Chat
|
Gata
|
Koshka
|
Macska
|
|
Lion (Sư tử)
|
Löwe
|
Løve
|
Leo
|
León
|
Leone
|
Lion
|
Leontari
|
Lyev
|
Oroszlán
|
|
Monkey (Khỉ)
|
Affe
|
Abe
|
Simius
|
Mono
|
Scimmia
|
Singe
|
Maimouda
|
Obiez’yana
|
Majom
|
|
Bear (Gấu)
|
Bär
|
Bjørn
|
Ursus
|
Oso
|
Orso
|
Ours
|
Arkoudha
|
Myedvyed’
|
Medve
|
|
Snake (Rắn)
|
Schlange
|
Slange
|
Serpens
|
Serpiente
|
Serpente
|
Serpent
|
Fidhi
|
Zmyeya
|
Kigyó
|
|
Horse (Ngựa)
|
Pferd
|
Hest
|
Equus
|
Caballo
|
Cavallo
|
Cheval
|
Alogo
|
Loshad’
|
Ló
|
|
Cow (Bò)
|
Kuh
|
Ko
|
Vacca
|
Vaca
|
Vacca
|
Vache
|
Vodi
|
Korova
|
Tehén
|
|
Khi so’sánh rất nhiều’từchỉ những’sự
vật thường gặp, chúng ta có thể thấy“tính
họ hàng” giữa nhiều ngôn ngữ khác
nhau. Những ngôn ngữ như tiếng Ý, tiếng
Tây Ban Nha và tiếng Pháp rõ ràng rất
gần với nhau (và cũng gần tiếng La-tin cổ)
hơn bất kỳ ngôn ngữ nào trong’số
đó so với các ngôn ngữ nhưtiếng
Đức, tiếng Anh hay tiếng Đan Mạch. Tuy nhiên,
dù chỉ xem qua một ví dụ hạn chế như
vừa rồi thì chúng ta cũng có thể thấy
mối quan hệ nội bộ (inter-relatedness) của’tất
cả những ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ
Ấn-Âu được liệt kê trong’từng
cột ở bảng trên(ngoại trừ tiếng Hungary).
(Ghi chú: Tiếng Hy Lạp và Tiếng Nga có
bảng chữ cái khác, vì vậy chúng ta
phải chuyển những chữ cái đó sang những’từ
trong tiếng Anh có nghĩa gần’tương đương).
Thật thú vị, như chúng ta thấy trong cột
cuối cùng ở bảng’từ phía trên,
dù được’sử dụng ở một quốc
gia’tại Âu lục nhưng tiếng Hungary lại
không thuộc hệ thống ngôn ngữ Ấn-Âu.
Còn tiếng Bax-cơ, ngôn ngữ của một bộ
phận người ngày nay ở Tây Ban Nha, lại
cũng hoàn toàn có nguồn gốc’từ
một hệ ngôn ngữ khác. Mỗi ngôn ngữ
hoàn toàn không có liên hệ với những
ngôn ngữ khác không thuộc hệ của nó.
Điều này hoàn toàn nhất quán với
ý kiến cho rằng’tất cả các ngôn
ngữ trong mỗi nhóm phát sinh’từ một
ngôn ngữ “gốc” bắt nguồn’tại
tháp Ba-bên.
|
Các ngôn ngữ có tiến hóa không?
Dù các ngôn ngữ rõ ràng cóbiến
đổi và có nhiều ngôn ngữ đã
phát sinh do việc phân rẽ từ một “tổ
tiên chung”, sự tương’tự với ý
tưởng về một’sự tiến hóa sinh học
ở quy mô lớn cũng chỉ dừng lại’tại
đó mà thôi.
Thật ra, tôi cho rằng thật sai lạc khi nói
về bất cứ “sự tiến hóa ngôn ngữ”
nào. Những thay đổi về ngôn ngữ phần
lớnlà do’tài phát minh, tính’sáng’tạo
bẩm sinh và khả năng thích ứng chứ không
phải do các đột biến di truyền được’sàng
lọc bởi quá trình chọn lọc’tự
nhiên. Các ngôn ngữ được nghiên cứu
ngày nay hầu như đều trong tiến trình
biến đổi để trở nên đơn giản
hơn chứ không phải phức’tạp hơn. Một
vài bộ lạc nguyên thủy trước kia’từng
nói những thứ ngôn ngữ với ngữ pháp
vô cùng phức’tạp.
5 Có lẽ sự “thoái hóa”
trong ngôn ngữ lại là một thuật ngữ thích
hợp hơn.
Ngôn Ngữ Qua Các Thời Kỳ – Ba Khái Niệm
(A) Cây Tiến Hóa ( Evolutionary tree)
Niềm tin về sự tiến hóa của các ngôn
ngữ cho rằng’tất cả các ngôn ngữ
có lẽ được xuất phát’từ một
ngôn ngữ nguyên thủy bắt nguồn’từ
tiếng kêu của động vật.
(B) Thảm Ngôn Ngữ (Language Lawn)
Đây là một nhận thức (sai lầm) phổ
biến về sách Sáng Thế Ký. Nhận thức
này cho rằng mỗi ngôn ngữ ngày nay đều
bắt nguồn một cách riêng rẽ tại tháp
Ba-bên.
(C) Khu Vườn Sáng Thế Ký (Genesis Orchard)
Sau trận Đại Hồng Thủy (chúng ta không’tìm
được thông tin nào nói đến’sự
đa dạng về ngôn ngữ trước thời điểm
nước lụt) ngôn ngữ duy nhất lúc đó
là ngôn ngữ mà gia đình Nô-ê sử
dụng. Tại tháp Ba-bên một ngôn ngữ khác
đã được “lập trình” cho mỗi
nhóm gia đìnhmột cách đột ngột
và siêu nhiên. Mỗi ngôn ngữ trong’số
đó đã đa dạng hóa và trở
thành nhiều loại ngôn ngữ riêng biệt
khác nữa nhưng’tất cả đều có
mối liên hệ với nhau hay cũng có thể nói
rằng mỗi nhóm ngôn ngữ đều có chung
một “tổ tiên.”
Lưu ý rằng 3 biểu đồ nói trên cũng
áp dụng để diễn’tả những’sự
biến đổi của các sinh vật’sống
Niềm tin vào’sự tiến hóa (A) cho rằng’tất
cả các giống loài đều bắt nguồn’từ
cùng một’tổ tiên, còn nhận thức
sai lầm (B) lại cho rằng’tất cả các giống
loài trên thế giới đều được’tạo
nên một cách riêng rẽ và không hề
biến đổi theo thời gian. Lẽ thật Kinh Thánh
(C) nói rằng mỗi giống loài đều được’tạo
nên một cách riêng rẽ, có sự biến
đổi theo thời gian và sự đa dạng hóa
trong nội bộ từng loài (không có
thông tin di truyền (ND)
mới, do vậy không có sự tiến hóa) kể
cả sau cơn nước lụt. Như thế, loài
chó sói, chó đin-gô, hay chó sói đồng
cỏ Bắc Mỹ, v.v … đều bắt nguồn’từ
một “loài chó” tổ tiên có nguồn
gốc’từ loài chó từng có mặt trên
chiếc’tàu của Nô-ê.
|
Còn’sự kiện tháp Ba-bên thì sao?
Sáng Thế Ký 10:32 dường nhưngụ ý
nói rằng việc con người phân’tán
trên khắp mặt đất thường nối theo
dòngtộc đa thế hệ. Cơ chế của việc
phân’tán trên có thể được’tìm
thấy ở đoạn 11 qua’sự kiện Chúa
đột ngột’tạo ra những ngôn ngữ mới
khiến cho con người lúc đó không hiểu
được tiếng nói của nhau. Trong’tình
cảnh “cắt đứt giao tiếp” như thế,
sự tức giận bùng lên, những nỗi nghi
ngờ sẽ phát sinh dữ dội và thái độ
thù nghịch’sẽ không ngừng đẩy những
nhóm người không cùng ngôn ngữ ra xa
nhau. Tuy nhiên, để duy trì sự liên kết
như câu Kinh Thánh trên đã ám chỉ
thì mỗi dòng họ thế hệ hay “gia’tộc”
cần phải’sử dụng chung một ngôn ngữ.
Vì khoảng thời gian’từ sau cơn nước
lụt đến thời điểm xây dựng tháp
Ba-bên không lâunên trên thế giới chưa
thể nào hình thành hàng trăm thị tộc.
Có lẽ lúc ấy chỉ có khoảng vài
chục ngôn ngữ riêng lẽ cần phải được’tạo
ra để mỗi thị tộc có được ngôn
ngữ riêng của mình và cũng để những
ý định của Đức Chúa Trời được
thực thi một cách nhanh chóng như sách Sáng
Thế Ký đã ký thuật lại.
Cuối cùng, khi những thế hệ kế tiếp của
các thị tộc này di chuyển đến nhiều
nơi khác trên thế giới, một vài nhóm
trong nội bộ những thị tộc đó lại
phân rẽ với nhau. Bằng cách đó, tất
cả những ngôn ngữ phát sinh’tại tháp
Ba-bên đã thay đổi và tách thành
nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhưng vẫn thể
hiện những đặc điểm liên quan đến
nhau.
Qua một khoảng thời gian’tương đối
ngắn, nhiều’sự thay đổi’tích’tụ
lại chính là căn nguyên phát sinh nhiều
thổ ngữ khác nhau (Chẳng hạnnhư phương
ngữ Tiếng Anh được’sử dụng’tại
Scốtlen, tại Liverpool và Úc; tại Nam Mỹ đối
lập với Bắc Mỹ). Cuối cùng, những phương
ngữ này quá khác biệt đến nỗi
người’sử dụng phương ngữ này
không thể hiểu được người’sử
dụng phương ngữ kia –Đây là một
tiêu chuẩn để phân loại các ngôn
ngữ thành các loại riêng rẽ.6
Vì vậy, tôi nghĩ rằng “hệ ngôn ngữ”
Ấn-Âu có thể bắt nguồn’từ một
ngôn ngữ “gốc” nào đó tại
tháp Babel. Đã hàng ngàn năm trôi qua
kể từ thời điểm xảy ra’sự kiện’tại
tháp Ba-bên và hàng trăm nhóm ngôn
ngữ đã phát sinh’từ một’số
ít những ngôn ngữ riêng biệt (được’tạo
nên) đó.
Một phán đoán ra’từ tất cả những
điều nói trên, dựa vào’số lượng
lớn các ngôn ngữ trên thế giới ngày
nay, làchúng ta có thể nhóm các ngôn
ngữ này lại thành những “hệ” ngôn
ngữ như hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Nhưng không
nên cố gắng’tạo ra một mối quan hệ
nào đó giữa “hệ ngôn ngữ”
này với “hệ ngôn ngữ” khác. Vì
theo mô hình này, mỗi hệ ngôn ngữ riêng
biệt là nhánh của một “ngôn ngữ
gốc” ban đầu’tại tháp Ba-bên. Các
“ngôn ngữ gốc” ấy là những ngôn
ngữ phát sinh không do’sự thay đổi của
một ngôn ngữ tổ tiên nào khác trước
đó.
Điều này thật’sự phù hợp với
những gì chúng ta quan’sátđược.
Chẳng hạn, đối với hệ ngôn ngữ Trung
Á bao gồm tiếng Hoa, tiếng Nhật và tiếng
Hàn, không có một chứng cứ nào cho
thấy rằng chúng bắt nguồn’từ cùng
một “ngôn ngữ tổ tiên” với các
ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu
hay những ngôn ngữ trong các hệ thống ngôn
ngữ gia đình khác.
Nhiều ngôn ngữ ngày nay đang trở nên mai
một và có nhiều ngôn ngữ mà các
nhà ngôn ngữ học chưa’từng nghiên
cứu đến. Vì vậy,các ước lượng’số
“hệ ngôn ngữ”rất khác nhau và
đó là một công việc khó khăn. Con’số
này thường vào khoảng khoảng 8 đến
20 (phổ biến là 12 hay 13). Điều nàykhá
trùng hợp với những mô tả trong Sáng
Thế Ký.
Những nhà tiến hóa đã rất cố gắng
để “liên kết” các hệ ngôn
ngữ khác nhaunhằm chỉ ra một’tổ tiên
chung của chúng. Chẳng hạn, họ muốn chứng
minh rằng chính các ngôn ngữ Ấn-Âu và
những ngôn ngữ Trung-Á (Sino-Asiatic) đã phát
sinhtừ một ngôn ngữ nào đó trước
đây. Nhưng những nỗ lực của họ đã
không thành công. Một cách kỳ diệu,
bằng chứng này nhất quán với quan điểm
theo đó một’số ít ngôn ngữ đã
được hình thành một cách riêng
rẽ trong’sự kiện tháp Ba-bên rồi trở
nên đa dạng hóa thành rất nhiều những
ngôn ngữ mà con người’sử dụng ngày
nay.
Tài Liệu Tham Khảo và Ghi Chú
- Tiếng Hê-bơ-rơ ở đây
có thể hiểu theo nhiều cách. Nó có
thể được hiểu là một ngọn tháp
đang được xây cao lên đến’tận
trời, một cách nói hình’tượng
để diễn đạt ý cho rằng ngọn tháp
này cực kỳ cao (như cách chúng ta dùng’từ
“nhà chọc trời” trong tiếng Việt,hay
“Wolkenkratzer” (“nhà chọc mây” trong
tiếng Đức). Chữ này cũng có thể
mang ý nghĩa nói rằng đỉnh của ngọn
tháp đó chính là một đài quan’sát
thiên văn,phục vụ cho việc thờ phương’tà
thần trong thời kỳ này cũng giống như một
vài đền thờ kim’tự tháp cổ giai
đoạn Babylon cổ đại (Ba-bên). Trở
về bàit.
- Bản Kinh Thánh King James đầu tiên
được xuất bản vào năm 1611 đã
dùng những’từ như Iesus, Iehovah, vnto, euill và
beleeueth. Bản in này cũng chứa đựng những
Ngụy Kinh (Apocrypha), những đoạn tham chiếuvới
nó từ những’sách được quy điển
và liệt kê những câu Ngụy Kinh trong lịch
đọc Kinh Thánh. Nguyên bản năm 1611 cũng
bao gồm hơn 8.000 phần ghi chú bên lềvới
nội dung là những phương án dịch khác
và những’từ không rõ nghĩa trong bản
Kinh Thánh gốc. Trở về bàit.
- Truyền hình, với ảnh hưởng
“đồng hóa” của nó trên ngôn
ngữ, cũng làm chậm đi quá trình đa
dạng hóa và thậm chí cũng là tác
nhân đưa đến’sự hội’tụ
ngôn ngữ, chẳng hạn giữa tiếng Anh của
người Úc và tiếng Anh của người
Mỹ. Trở về bàit.
- Bằng việc phân’tích những
đặc điểm chung, các nhà ngôn ngữ
học có thể đưa ra kết luận rằng các
ngôn ngữ Rô-man được bắt nguồn’từ
một thứ ngôn ngữ chung sau khi ngôn ngữ đó
tách ra khỏi’tổ tiên chung của những
ngôn ngữ có nguồn gốc’từ tiếng
Đức (như tiếng Anh, Tiếng Hà Lan, Tiếng
Đức. v.v … ) Trở về bàit.
- Linton, R., Quyển “The Tree of Culture”,
Alfred A. Knopf, New York, 1955, trang. 9. Trở về bàit.
- Đôi khi tiêu chí không hiểu
lẫn nhau khi xác định các ngôn ngữ riêng
rẽ lại nhường chỗ cho những’sự chia
rẽ chính trị – chẳng hạn như tiếng
Na-uy, tiếng Đan Mạch và tiếng Thụy Điển.
Cần lưu ý rằng mỗi cá nhân nói
hơi khác mọi người một chút – Điều
đó được gọi là vốn’từ
vựng cá nhân. Trở về bàit.
* NB: Not Felis, as commonly thought.
Return to table.
| The ‘new atheists’ claim that Christianity doesn’t have answers to evolution. This site begs to differ with over 7,000 fully searchable articles—many of them science-based. Keep refuting the skeptics.  | | |
|